Sonntag, 28. Juli 2019

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 41


Kể từ khi Chúa sinh ra loài người, trái tinh cầu của chúng ta phân ra phương Tây và phương Đông. Kỳ lạ thay phương Tây lại là quê hương của các văn nhân hiền triết, xứ sở này rất ưa chuộng hâm mộ nhân tài. Rất hiếm hoi ai đó vì văn hay chữ tốt uyên bác thông thái về học thuật mà bị nguy hiểm đe dọa đến tính mạng. Còn phương Đông bản tính con người bần tiện, tiểu nhân nhung nhúc như giòi bọ.  Sĩ tử làm thơ viết văn phải tránh dùng chữ trùng với tên nhà Vua, với họ mạc cụ kỵ mấy đời của nhà Vua và Hoàng Hậu.

Lu Hà Và Văn Thi Nhân Chùm Số 105


Cánh Chim Sắt
cảm xúc nhạc Song Ngọc & Hoài Linh

Cánh chim sắt vẫy vùng trong gió
Hồn yêu thương bé nhỏ thiết tha
Lạc vào cung cấm Hằng Nga
Xé mây tìm kiếm mặn mà ái ân

Lu Hà Và Văn Thi Nhân Chùm Số 104


Hồn Về Nguồn Cội
cảm xúc từ nhạc Lý Kiến Hào: Nhớ Mẹ Miền Trung

Hò ơ giọng hát miền trung
Bao năm xa cách chập chùng biển đông
Ai về thăm lại cánh đồng
Quê tôi nghèo lắm chất chồng khổ đau

Lu Hà Và Văn Thi Nhân Chùm Số 103


Chân Cầu Biệt Ly
cảm xúc nhạc Hoài Linh: Chuyến Đò Không Em

Đò chiều vắng bóng em rồi
Chập chùng bướm trắng buồn trôi lục bình
Em ơi! kỷ niệm chúng mình
Tan vào dĩ vãng dáng hình mù sương

Lu Hà Và Văn Thi Nhân Chùm Số 102


Bẽ BàngTơ Duyên
cảm xúc nhạc Ngọc Sơn: Tình Dại Khờ

Một đêm trằn trọc nữa rồi
Đầy vơi cốc lệ than ôi ái tình
Nhắc chi câu chuyện chúng mình
Người đời mai mỉa dáng hình tàn phai

Lu Hà Và Văn Thi Nhân Chùm Số 101


Cửa Biển Ngồi Trông
cảm xúc nhạc Huy Phương: Thuyền Xa Bến Đỗ

Tình anh như áng mây trời
Cánh chim phiêu bạt chơi vơi tinh cầu
Thuyền không neo đậu về đâu
Em ơi! bão tố bể dâu đoạn trường

Sonntag, 23. Juni 2019

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 40


Phần khúc ca Hồ Trường của ông Nguyễn Bác Trác tôi xin miễn trích dẫn, tôi xin bình giảng ngay nội dung bài thơ của tôi cảm khái ra thành “Giọt Lệ Canh Thâu“
Thơ viết theo lối tứ tuyệt trường thiên không đối câu đối chữ, tôn trọng niêm luật như thơ đường. Ta thường gọi là thể thơ mới 7 chữ mà các vị đàn anh thời tiền chiến như Tản Đà, Nguyễn Bính hay làm.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 39


Hồ Trường là một thi phẩm của ông Nguyễn Bá Trác viết vào đầu thế kỷ 20. Ông từng theo Cụ Phan Bội Châu trong phong trào Đông Du và hưởng ứng phong trào Đông Kinh của Cụ Phan Châu Trinh. Từng làm quan dưới triều vua nhà Nguyễn.
Ông là chủ bút phần Hán Văn của tờ Nam Phong do quan đại thần Phạm Quỳnh sáng lập.
Sau thôi làm ở báo Nam Phong, ông vào Huế làm Tá lý Bộ Học và lần lượt trải qua các chức vụ: Tuần vũ Quảng Ngãi, Thị lang Bộ Binh, Tổng đốc Thanh Hóa, Tổng đốc Bình Định.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Mai Hoài Thu Phổ Nhạc Phần 38


Bài thơ lục bát“ Giọt Sầu Em Gửi Cho Ai“ của tôi viết tặng nhà thơ kiêm nhạc sĩ Mai Hoài Thu đã được ca sĩ Nguyễn Đông trình diễn theo tôi là rất thành công.
Thơ lục bát phổ theo nốt nhạc Tây được giọng nam ca sĩ hát theo cung điệu trầm buồn là tổng hợp của các làn điệu nhạc nhẹ, nhạc vàng, ngâm thơ tao đàn. Tôi nghe như tiếng nỉ non ai oán sầu bi kiểu cung oán ngâm khúc và trinh phụ ngâm, âm điệu thật là buồn . Thơ nhạc Việt Nam phải buồn mới đạt yêu cầu. Thơ tình phải buồn nhạc tình phải buồn gịọng hát phải buồn thì mới đáng gọi là nhạc vàng theo kiểu mẫu mà các nhạc sĩ miền Nam sáng tác trước năm 1975.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 37


Hãy Sống Sao Cho Đẹp
cảm xúc từ những danh ngôn trên một clip

Phải sống sao cho đẹp, cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí. Nói như Nietzcher là sống như cỏ cây gỗ mục, nên ông có cảm giác buồn nôn. Con người quá nặng về sinh tồn, tồn tại và hưởng thụ mà quên mất cái căn bản là hiện sinh, dấn thân và sáng tạo không ngừng để phân biệt con người khác loài cầm thú và những vật vô tri vô giác không có linh hồn .

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 36


Các bậc đàn anh thời tiền chiến có một nét giống nhau là thích làm thơ 7 chữ, Nguyễn Bính và Thâm Tâm là tiêu biểu. Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương , Hồ Dzech ngoài 7 chữ ra thường là thơ 8 chữ. Theo tôi thơ 8 chữ dễ viết hơn nên phái nữ thời nào cũng rất hăng hái thể thơ này. Riêng Tản Đà thì kiểu nào cụ cũng chơi, qủa là một tay lợi hại cự phách trong làng thơ. Không phải là hậu sinh khả úy. Tôi may mắn sinh sau nên được thừa hưởng phần nào gia tài các bậc tiền bối để lại, tha hồ mà học tập . Nhưng thật lòng tôi cũng hơi chê các bậc tiền bối còn coi nhẹ thơ lục bát và hình như không thấy cái cao siêu, bác học, siêu hình huyền diệu của thơ song thất lục bát?

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 35


Cố thi sĩ Đinh Hùng viết bài thơ 7 chữ “ Gặp Nhau Lần Cuối“ 7 khổ 28 câu. Tôi cảm dịch sang thể thơ song thất lục bát có rút ngắn lại còn 6 khổ 24 câu. Thời thi sĩ Đinh Hùng là thời kỳ thơ mới phát triển, các vị thi sĩ  nhà ta có xu hướng biến đổi thơ đường luật thất ngôn bát cú hay tứ tuyệt thành thể thơ 7 chữ trường thiên không cần đối câu đối chữ nữa để tả tình. Có sự lạ xuất hiện thêm thơ 8 chữ nhưng song thất lục bát thì lại viết rất ít là một điều đáng tiếc. Thơ song thất lục bát rất hợp với lối ngâm thơ tao đàn. Có lẽ song thất lục bát làm ra là để ngâm nga. Thật là tôi có duyên may mới gặp cô Trần Thu Hà trên cõi đời này, cô ta lại có sở trường về ngâm thơ, riêng thơ song thất lục bát rất hợp với âm điệu Huế. Nghe sao mà réo rắt thanh cao thế, chả khác chi nơi cung đình vua chúa phong lưu đài các ngày xưa vậy.

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 34


Thâm Tâm viết bài thơ “Dang Dở “gồm 11 khổ tức 44 câu thể thơ 8 chữ. Còn tôi từ cái hồn thơ của Thâm Thâm chuyển dịch sang tâm hồn tôi thành bài thơ song thất lục bát cũng 11 khổ tức 44 câu. Nhưng tâm trạng khí khái hoàn toàn khác nhau, một Thâm Tâm xót xa nuối tiếc hận tình mà muốn trút hết oán thù vào đầu kẻ thù xâm lược. Thời đó là người Pháp đây? Thâm Tâm muốn làm một Kinh Kha nơi chiến địa vì thất tình mà đổ cho là số kiếp nên thà chết quách đi cho rảnh.